(Chinhphu.vn) Degree classifications of 'Good' or 'Excellent' must accurately reflect student capabilities.

(Chinhphu.vn) - Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường đại học kiểm soát lạm phát điểm nhưng không áp đặt tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc. Theo TS Hoàng Anh Tuấn, cần kiểm soát chất lượng từ chuẩn đầu ra, cách tổ chức thi đến năng lực làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp.
Ngày 16/10, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành Công văn số 7314/BGDĐT-GDĐH về nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm. Bộ yêu cầu rà soát quy định kiểm tra, đánh giá, xếp loại tốt nghiệp; phân tích phân bố điểm theo ngành, khóa học và đối chiếu với chuẩn đầu ra, phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện, xử lý lạm phát điểm số.
Đáng chú ý, Bộ GDĐT yêu cầu không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; không hạ chuẩn để tăng thành tích. Các trường phải kiểm tra mẫu bài thi, đồ án, luận văn và báo cáo kết quả kiểm soát lạm phát điểm trước khi kết thúc năm học.
Tỷ lệ bằng giỏi không thể là thước đo duy nhất
Trao đổi về yêu cầu này, TS Hoàng Anh Tuấn, Phụ trách Phòng Đào tạo, Trường Quản trị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, lạm phát điểm có nhiều nguyên nhân: đề thi thiên về ghi nhớ, giáo trình chậm cập nhật khiến sinh viên dễ học tủ, hình thức đánh giá thiếu đa dạng. Một số trường chưa tách bạch bộ phận khảo thí và đào tạo nên khó kiểm soát chéo.
Theo ông Tuấn, bằng giỏi, xuất sắc là tín hiệu nhà trường gửi tới nhà tuyển dụng về nhóm sinh viên nổi trội. Khi tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc quá cao nhưng không phản ánh đúng năng lực, nhà tuyển dụng sẽ khó phân biệt được những sinh viên thực sự nổi trội. Điều này không chỉ làm giảm giá trị của bằng cấp mà còn khiến doanh nghiệp mất thêm thời gian đánh giá ứng viên.
Có thể thấy các trường hợp tương tự tại khoa Luật của ĐH QG Singapore (NUS), chỉ có 10% sinh viên có thể đạt loại Xuất sắc, hay thường được gọi là "Summa cum laude" – một thuật ngữ tiếng Latinh, có nghĩa là "Tốt nghiệp với thành tích xuất sắc nhất") - đây là một cách phân loại theo tỷ lệ. Ngược lại, với một số trường như Oxford, tỷ lệ đạt First class honours (đạt điểm tổng tốt nghiệp từ 70% trở lên) là khoảng 30%. Tuy nhiên như chúng ta đã biết, các sinh viên đỗ vào Oxford đã được sàng lọc rất kỹ nên việc có nhiều sinh viên Giỏi, Xuất sắc hơn cũng là điều dễ hiểu. Điểm chung ở đây là gần như không có trường ĐH thuôc Top 100 nào trên thế giới có tỷ lệ tốt nghiệp loại Giỏi, Xuất sắc đến 50%.
Đánh giá năng lực thay vì chỉ chấm điểm
TS Hoàng Anh Tuấn khẳng định, trước hết các trường phải xây dựng chuẩn đầu ra gắn với kỹ năng nghề nghiệp và đổi mới cách thi. Kết quả học tập cần được đánh giá bằng nhiều hình thức, từ bài thi đến thảo luận, tranh luận, thực hành và dự án. Tiêu chí chấm phải rõ ràng, quá trình đánh giá có kiểm soát độc lập. Khi xuất hiện nhiều điểm cao bất thường, cần xem lại đề thi, phương pháp chấm, không đơn thuần kéo điểm xuống.
Ông chia sẻ kinh nghiệm của HSB về việc tách bộ phận khảo thí với đào tạo, sử dụng ngân hàng đề, thi trên máy tính và trộn đề ngẫu nhiên. Từ năm học 2025-2026, trường thành lập Hội đồng đạo đức về AI để xem xét trường hợp nghi đạo văn hoặc lạm dụng AI trong bài kiểm tra, yêu cầu sinh viên giải trình. Theo ông, những biện pháp này nhằm bảo đảm kết quả phản ánh đóng góp thực của người học.
Bài học quốc tế về kiểm soát lạm phát điểm
Từ kinh nghiệm quốc tế, TS Hoàng Anh Tuấn đề xuất các trường đại học Việt Nam cần thường xuyên phân tích kết quả thi, đặc biệt ở những học phần có tỷ lệ điểm cao bất thường. Theo ông, có thể xem xét điều chỉnh điểm theo phân phối chuẩn, song điều quan trọng là dựa vào dữ liệu để rà soát, cập nhật đề thi và phương pháp đánh giá, thay vì điều chỉnh điểm một cách cơ học. Ông cũng nhắc đến kinh nghiệm kiểm soát đánh giá tại các đại học Australia như RMIT.
Một vấn đề khác được ông Tuấn đề cập là tính minh bạch trong đánh giá. Ông cho rằng các trường nên công khai phân bố điểm theo ngành, học phần, tương tự cách cung cấp dữ liệu điểm tại Viện Công nghệ Georgia (Mỹ). Bên cạnh kết quả thi, bảng điểm cũng cần ghi nhận thành tích nghiên cứu khoa học, dự án tốt nghiệp, giải thưởng khởi nghiệp để nhà tuyển dụng có thêm căn cứ đánh giá năng lực sinh viên.
Đặc biệt, TS Hoàng Anh Tuấn lưu ý, các trường cần chú trọng phản hồi từ doanh nghiệp về năng lực của sinh viên trong quá trình thực tập và sau tốt nghiệp. Kết quả khởi nghiệp, cơ hội việc làm hay mức thu nhập cũng là những thước đo đáng quan tâm. Ví dụ trong lĩnh vực kinh doanh, một số trường đại học quốc tế còn xem số lượng doanh nghiệp do cựu sinh viên sáng lập, trong đó có những doanh nghiệp được định giá trên 1 tỷ USD, là một chỉ dấu về hiệu quả đào tạo.
Theo TS Hoàng Anh Tuấn, điểm số cao không đồng nghĩa với khả năng làm việc tốt. "Chúng tôi muốn điểm số phản ánh đúng năng lực và nỗ lực của từng em", ông khẳng định và đồng thời nhấn mạnh sinh viên cần được trang bị kiến thức, kỹ năng để có thể ‘vào việc’ ngay sau khi tốt nghiệp.
Thu Trang
